
Thực trạng tuyển sinh đại học và cao đẳng ở nước ta,
nói một cách có trách nhiệm, đang lên tới mức bi hài. Bi hài bởi chúng
ta đang lập một kỷ lục có một không hai: Việt Nam là nước có tỷ lệ thi
trượt đại học cao nhất thế giới. Và hằng năm Việt Nam có hàng chục ngàn sinh viên ùn ùn kéo nhau đi... du học.
* Hiện trạng
Kỳ tuyển sinh năm vừa rồi, đã có những trường đại
học tỷ lệ học sinh trúng tuyển so với số thí sinh tham gia thi tuyển là
1/80. Chúng ta hãy tưởng tưởng: Hai phòng thi chỉ lấy được một học sinh
vào đại học.
Một câu nói luôn luôn được lặp đi lặp lại trên các
phương tiện thông tin đại chúng là: "Năm nay là năm có số học sinh tham
gia thi tuyển đông nhất từ trước đến nay”. Nếu không có gì thay đổi thì
chúng ta sẽ còn được nghe những câu nói đại loại như vậy trong một số
năm nữa. Và năm nay, có lẽ, một số trường sẽ có tỷ lệ tuyển sinh là
1/100. Con số đó sẽ chưa phải là con số cao nhất, nếu Bộ Giáo dục và
Đào tạo không thay đổi gì trong cách tiếp cận với tình hình hiện nay.
Có thể thấy rằng, những học sinh tốt nghiệp phổ
thông hiện nay ít có cơ may vào đại học hơn rất nhiều so với các thế hệ
cha anh. Nếu lấy một lớp 12 bình thường của một trường cấp III bình
thường hiện nay (nghĩa là không phải là một trường chuyên hay lớp chọn)
thì trong lần thi thứ nhất, phần lớn học sinh tốt nghiệp phổ thông đều
trượt đại học.
* Đi tìm nguyên nhân
- Cải cách chỉ để tránh tiêu cực?
Người ta nghĩ nhiều tới những biện pháp để tuyển
sinh chính xác và công bằng, chứ không nghĩ tới những biện pháp nhằm
ngăn chặn tình trạng bất bình thường hiện nay trong tuyển sinh đại học
và cao đẳng. Từ việc hiểu không đúng nguyên nhân gây nên tình trạng bất
bình thường hiện nay, người ta đã đi đến những cách nghĩ, cách làm
không những không giúp gì cho việc khắc phục tình trạng trên mà còn
tiếp tay làm căng thẳng thêm tình hình.
- Đánh đố học trò
Nhiều khi, các biện pháp và chính sách đưa ra còn
mâu thuẫn nhau. Chẳng hạn, do nghĩ rằng cần phải ra đề thi thật khó thì
mới tuyển được những học sinh giỏi mà nhiều đề thi có tính chất đánh
đố, khiến rất đông học sinh hầu như không làm được gì, gây nên sự chán
nản và bất bình.
Cách nghĩ này là sai lầm. Tài năng không phải bao
giờ cũng bộc lộ ngay khi nắm được những kiến thức phổ thông. Giữa đại
học và phổ thông có sự biến đổi về chất. Do vậy, không thể đánh giá tài
năng chỉ căn cứ vào kết quả của một kỳ thi vốn còn nhiều yếu tố ngẫu
nhiên như hiện nay.
Vả lại, không phải cứ thi tuyển thật gắt gao thì
mới chọn được tài năng. Việc ra đề thi khó chỉ giúp cho việc luyện thi
càng trở nên cần thiết và do đó không những không khắc phục được nạn
học thêm, dạy thêm tràn lan mà còn củng cố thêm cho nó. Những học sinh
không có điều kiện học thêm sẽ không có cơ hội làm được bài.
- Điểm chuẩn leo thang bất thường
Thực tế là, cách tuyển sinh hiện nay của chúng ta
không tạo được sự công bằng giữa các khóa tuyển sinh cũng như trong
cùng một khóa tuyển sinh. Chỉ xin nêu lên một khía cạnh: Điểm chuẩn đỗ
vào các trường đại học và cao đẳng tăng lên hàng năm. Nếu một khoa nào
đó của một trường đại học nào đó cách đây vài năm chỉ là 11 hoặc 12
điểm thì nay đã lên đến trên 20 điểm. Như vậy, chúng ta đã tạo ra một
tình hình hỗn loạn về tiêu chuẩn thi tuyển.
Xét một cách khoa học thì điểm thi tuyển phải là
một loại thước đo để đong đếm một cách khách quan kiến thức của các thí
sinh. Đã là thước đo thì nó phải bất di bất dịch. Nó cũng giống như bất
kỳ một loại thước đo nào khác. Có như vậy mới bảo đảm được công bằng
cho các thí sinh. Cần phải xác định một điểm chuẩn cố định cho các
ngành đào tạo. Khi ấy, một thí sinh đạt được một điểm chuẩn xác định
đối với một khoa của một trường đại học nào đó là có quyền được nhận
vào học tại khoa đó.
Điểm chuẩn là một chỉ báo cho biết thí sinh có đủ
năng lực để theo học chuyên ngành đó. Thế nhưng, cách làm hiện nay của
chúng ta là mỗi năm cái thước đo đó cứ dài thêm ra và do đó, một thí
sinh loại khá giỏi ở thời điểm hiện nay vẫn có thể trượt đại học, trong
khi một thí sinh loại trung bình của các thế hệ trước vẫn có thể được
ngồi trên giảng đường đại học.
Nhiều người công tâm thuộc các thế hệ trước, kể cả
người viết bài này, cảm thấy xấu hổ khi nghĩ rằng nếu trước đây, việc
tuyển sinh cũng tiến hành như hiện nay thì mình chắc chắn trượt đại
học. Đó là cảm giác xấu hổ về sự không công bằng mà thế hệ mình đang
gây ra cho các thế hệ con em.
- Cộng điểm vô lý
Chính sách cộng điểm ưu tiên là một chính sách hết
sức đúng đắn và đó cũng là một phương thức để bảo đảm sự công bằng cho
các thí sinh giữa các vùng, miền, các tầng lớp xã hội khác nhau.
Tuy nhiên, việc vận dụng chính sách ưu tiên đó đang
tạo ra một sự bất bình trong các thí sinh, bởi vì, việc ưu tiên trong
tình hình chỉ tiêu tuyển sinh hạn chế hiện nay đã đẩy một số thí sinh
loại khá giỏi ở các thành thị lớn vào diện trượt đại học. Giả sử, điểm
chuẩn để lấy vào một khoa nào đó là 20. Một thí sinh Hà Nội đạt được
19,5 điểm vẫn bị trượt, nhưng một thí sinh đạt được 16 điểm (+4 điểm ưu
tiên) ở một vùng xa xôi nào đó sẽ vẫn đỗ vào khoa đó.
- Cân bằng lao động?
Quan điểm khác thì cho rằng cần phải hạn chế số
lượng tuyển sinh để giảm bớt áp lực về công ăn việc làm đối với xã hội.
Theo cách suy nghĩ này, người ta cho rằng, có thể giải quyết một phần
sự bức xúc về việc làm nhờ vào công tác tuyển sinh đại học và cao đẳng.
Kết quả là, số lượng học sinh trượt đại học cứ ngày
càng tăng lên mà vấn đề việc làm cũng không vì thế mà bớt căng thẳng
hơn, vì nhiều học sinh không đỗ đại học sẽ được bổ sung vào đội quân
thất nghiệp vốn đã khá đông đảo ở nước ta. Họ không chịu đầu hàng, họ
vẫn tiếp tục học ôn để tham gia vào (những) kỳ thi tới. Hoặc giả, nếu
họ muốn đi làm thì cũng không dễ gì tìm được việc làm phù hợp. Họ cũng
chưa có được một khả năng để tự mình mở ra một hướng kinh doanh hay sản
xuất. Họ chỉ biết trông chờ vào xã hội. Sức ép đối với việc làm trong
xã hội vì thế càng tăng lên.
Về vấn đề này, cần phải có một cái nhìn tổng thể.
Trước hết, chúng ta phải quan niệm ngành giáo dục cũng là một ngành
kinh tế với những sản phẩm đặc thù. Quan niệm ngành giáo dục là ngành
đào tạo con người cho tương lai có thể cần phải xem xét lại. Quan niệm
đó có vẻ lãng mạn giống như khi ta nói nhà văn là kỹ sư tâm hồn. Nhà
văn trước hết phải là nhà sản xuất mà sản phẩm của họ là các tác phẩm
văn học có thể bán được hoặc không bán được.
Ngành giáo dục cũng vậy. Ngành giáo dục tạo ra các
sản phẩm cho hiện tại và chính nó cũng tác động cụ thể tới sự phát
triển của toàn bộ nền kinh tế hiện tại của đất nước. Có thể hình dung
một trường hợp như sau: Có một thành phố nhỏ với khoảng 200.000 dân và
một trường đại học với khoảng 50.000 sinh viên. Toàn bộ các mặt hoạt
động chủ yếu của thành phố đó sẽ phụ thuộc vào trường đại học ấy. Điều
này có thể nhận ra dễ dàng trong các kỳ nghỉ hè, khi sinh viên về nghỉ
hè: các xe buýt lèo tèo hành khác, các cửa hàng văn phòng phẩm, các
quán cà phê, các cửa hàng photocopy, các hiệu cắt tóc, các quán cơm
bình dân, nghĩa là rất nhiều các loại dịch vụ của thành phố bị đình trệ
và thu nhập của thành phố đó bị giảm sút đáng kể.
Như vậy, trường đại học đó thực sự góp phần làm cho
kinh tế của thành phố phát triển. Suy rộng ra, có thể nói ngành giáo
dục thực sự là một ngành kinh tế có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy
sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế của đất nước, nhờ việc nó
góp phần làm cho một số ngành kinh tế khác phát triển, như sản xuất
giấy và đồ dùng học tập, giao thông công cộng, nhà ở cho sinh viên và
rất nhiều các loại dịch vụ khác.
Đương nhiên, còn có những khía cạnh khác nữa mà
chúng ta chưa tính được hết. Chẳng hạn, nếu không tìm được việc làm thì
một sinh viên tốt nghiệp đại học với vốn hiểu biết của mình (thí dụ:
một kỹ sư) có nhiều khả năng hơn để khởi đầu một doanh nghiệp và nhờ đó
mà tạo ra được việc làm cho bản thân và có thể thu hút thêm một số lao
động khác. Sức ép về việc làm nhờ đó cũng giảm đi.
- Cân bằng trình độ?
Còn có một quan điểm khác cũng cần phải đề cập tới:
đó là quan điểm cho rằng cần phải hạn chế tuyển sinh đại học vì hiện
đang có sự mất cân đối trong công tác đào tạo của nước ta: Có quá nhiều
sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng thiếu người có trình độ trung cấp
hay cao đẳng. Bởi vậy cần phải hạn chế số lượng tuyển sinh vào đại học
để buộc một số học sinh phải học trung cấp hay cao đẳng hoặc học nghề.
Đây thực ra là một quan điểm có phần ngụy biện.
Không ai có thể phủ nhận được rằng, thi cao đẳng hiện nay cũng khó
chẳng kém gì đại học và tỷ lệ thi trượt vào các trường trung cấp hay
cao đẳng cũng rất cao, thường thì cũng phải 1 chọi 6-7 trở lên. Ngay
như hệ đại học tại chức cũng đã có tỷ lệ thi trượt là 1/6-7 hoặc cao
hơn nữa.
Mặt khác, nếu nói là nước ta đã có quá nhiều người
tốt nghiệp đại học thì lại càng sai, vì nước ta hiện đang được xếp vào
những nước có tỷ lệ dân số đạt trình độ đại học trở lên thấp nhất của
khu vực và trên thế giới. Ngay bên cạnh ta, các nước đang phấn đấu để
đạt được tỷ lệ tuyển sinh đại học là 60 - 80% hoặc cao hơn nữa, trong
khi chúng ta mới chỉ đạt được khoảng 10 - 15%.
* Nghịch lý và lãng phí
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta đang
xảy ra một nghịch lý: Là một nước thuộc loại nghèo nhất thế giới, chúng
ta đang có hàng chục nghìn sinh viên tự túc du học ở nước ngoài. Họ là những
con nhà giàu có chăng? Chỉ đúng một phần.
Có nhiều bậc cha mẹ đã và đang thế chấp nhà cửa, vay
tiền và sống đạm bạc để cho con đi du học. Tại sao? Vì họ có nhu cầu
cho con học đại học và thực tế con cái họ có khả năng học đại học ở
nước ngoài. Nhưng ở ta, họ không được chấp nhận. Cái quy trình đi du
học của nhiều người diễn ra như sau:
Thi đại học - trượt - Thi lại - Thi lại trượt - Đi du học
Điều đó cho thấy, đi du học đối với họ không phải là
sự lựa chọn mà là sự bắt buộc. Nếu mỗi sinh viên đi du học tự túc ở
nước ngoài phải chi trung bình mỗi năm 10.000 USD thì số ngoại tệ của đất nước ta
chảy ra ngoài hàng năm lên tới hàng trăm triệu USD. Số tiền đó thật là
đáng quý đối với một nước nghèo như nước ta. Nó có thể sẽ cao hơn số
tiền ngân sách mà nhà nước chi cho ngành giáo dục và đào tạo. Liên kết,
liên doanh đào tạo với nước ngoài sẽ là một trong những giải pháp hữu
hiệu để đáp ứng nhu cầu học tập của thanh niên và hạn chế sự chảy máu
ngoại tệ.
Theo Tạp Chí Tri Thức Trẻ