Việc
đặt ra mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về CNTT là một niềm
tin hoàn toàn có thật, tôi có thể nói là chúng ta sẽ thành công.
Đó là lời khẳng định của Bộ trưởng Bộ TT&TT Lê Doãn Hợp trong cuộc
đối thoại trực tiếp trên kênh truyền hình VTC2 diễn ra sáng ngày 16/8.
Trong cuộc đối thoại này, Bộ trưởng Lê Doãn Hợp đã trả lời gần 30 câu
hỏi về những vấn đề người dân quan tâm, trong đó có nhiều câu hỏi xoay
quanh dự thảo “Đề án tăng tốc sớm đưa Việt Nam thành quốc gia mạnh về viễn thông và công nghiệp CNTT”.
Hiện tại, Đề án này đã được lãnh đạo Bộ TT&TT thông qua và đang chờ
Chính phủ phê duyệt. Theo đề án này, bốn trụ cột chính của một nền
CNTT-TT mạnh được Bộ TT&TT xác định bao gồm: Hạ tầng CNTT-TT, ứng
dụng CNTT, công nghiệp CNTT và nhân lực CNTT-TT.
Theo dự thảo đề án, đến giai đoạn 2015 - 2020, Việt Nam sẽ phải là một
trong 70 nước phát triển CNTT và viễn thông hàng đầu thế giới. Việt Nam
sẽ hình thành một số doanh nghiệp viễn thông và CNTT có quy mô quốc tế,
đạt doanh thu trên 15 tỷ USD. Bên cạnh đó, mọi gia đình, công dân Việt
Nam đều sẽ sử dụng thiết bị thông tin và kết nối băng thông rộng để
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sử dụng các dịch vụ công của
chính phủ điện tử sâu rộng tới các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội.
Nhiều tiềm năng

|
| Bộ trưởng Lê Doãn Hợp trả lời đối thoại trực tiếp trên kênh truyền hình VTC2 sáng ngày 16/8. |
Theo Bộ trưởng, công nghiệp CNTT Việt Nam hiện mới ở giai đoạn đầu phát
triển. Cụ thể: công nghiệp phần cứng - điện tử mới ở giai đoạn 1 là
giai đoạn lắp ráp các thiết bị phần cứng, điện tử cho các công ty nước
ngoài. Công nghiệp phần mềm cũng chỉ mới đang chủ yếu làm gia công cho
thị trường trong nước và quốc tế với tổng doanh thu còn khiêm tốn.
Tuy nhiên, Bộ trưởng cho rằng điểm đáng khích lệ và cũng là điều khả
quan của công nghiệp CNTT Việt Nam, đó là việc duy trì tốc độ tăng
trưởng cao trong suốt 5-7 năm vừa qua, khoảng 20-30%/năm. Đặc biệt, một
số đánh giá quốc tế công bố gần đây cho thấy: Chỉ số Chính phủ điện tử
Việt Nam tăng 15 bậc sau 3 năm; Chỉ số sẵn sàng kết nối mạng của Việt
Nam (Networked Readiness Index – NRI) tăng hơn 10 bậc so với xếp hạng
2006-2007, đứng vị trí 73/ 127; Chỉ số phát triển hạ tầng viễn thông
tăng 20 bậc so với năm 2005, đứng thứ 101. Ngoài ra, Việt Nam cũng có
những lợi thế khác như dân số trẻ, ham học hỏi.
Hiện tại Việt Nam đứng thứ hạng 92 trong bảng xếp hạng của Liên minh
Viễn thông quốc tế (ITU). Cách đây 5 năm, Việt Nam đứng thứ 107. Như
vậy, sau 5 năm, Việt Nam tăng được 15 bậc trong bảng xếp hạng. Mục tiêu
đề án tăng tốc là đến 2015 (sau 6 năm nữa), Việt Nam sẽ đứng khoảng thứ
70, tức là tăng được 18 bậc. Và đến năm 2020, Việt Nam đứng khoảng thứ
60.
Nếu chia các quốc gia trên thế giới (khoảng gần 200 quốc gia thành viên
của Liên hợp quốc) thành 3 nhóm về CNTT: nhóm khá, nhóm trung bình và
nhóm yếu, mỗi nhóm khoảng 60-70 quốc gia, thì nếu Việt Nam đứng thứ
hạng 70, có thể nói Việt Nam thuộc nhóm khá về CNTT.
“Sau khi nghiên cứu hiện trạng, xu hướng phát triển của viễn
thông và CNTT trong 15 năm qua, chúng tôi nhận thấy giai đoạn 10 năm
sắp tới (2010-2020) là giai đoạn quan trọng để viễn thông và CNTT có
thể biến những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, đưa viễn
thông và CNTT lên một tầm cao mới, đóng góp chung cho sự phát triển
kinh tế xã hội, sự phát triển của đất nước”, Bộ trưởng nói.
Thực tế, không phải là phiêu lưu
Để thực hiện các mục tiêu trên, Bộ trưởng cho biết đề án sẽ đưa ra các
nhóm giải pháp về xã hội hóa, về đầu tư, về thể chế mở đường và về
chính sách. Trong đó, đề án xác định 3 điểm đột phá chính gồm: 1) Hạ
tầng CNTT-TT: dựa vào chính sách mới trong Luật Viễn thông. 2) Các
phương tiện nghe nhìn đến người dân, hộ gia đình: dựa trên phát triển
thực tiễn trong những năm gần đây và kết quả thức hiện chính sách Viễn
thông Công ích Việt Nam. 3) Một số doanh nghiệp phát triển tốt và có
khát vọng phát triển ra nước ngoài.
Trong lĩnh vực công nghiệp viễn thông và CNTT, đề án sẽ đưa ra giải
pháp hình thành các quỹ kích cầu cho công nghiệp CNTT, trong đó Chính
phủ sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc phát triển sản phẩm, tìm kiếm
thị trường, mở rộng và quảng bá sản phẩm, ưu đãi thuế và mặt bằng kinh
doanh. Mặt khác, Bộ TT&TT sẽ tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý nhằm
ưu đãi tối đa các doanh nghiệp công nghiệp CNTT. Cùng với đó, đề án sẽ
tập trung đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT.
“Căn cứ vào thực tiễn phát triển của viễn thông và CNTT Việt
Nam trong 5 năm gần đây, tôi có thể nói chúng ta sẽ thành công với đề
án này. Đây hoàn toàn là niềm tin có thật, cộng với quyết tâm
thực hiện không chỉ từ lợi thế nguồn nhân lực mà còn nhờ
sức mạnh văn hóa, ý thức dân tộc”, Bộ trưởng nói.
Tuy nhiên, bên cạnh những giải pháp mà đề án đưa ra, yếu tố quyết định
để đạt mục tiêu trên, theo Bộ trưởng, là sự quyết tâm cao độ của các cơ
quan Nhà nước, Chính phủ, Bộ TT&TT, các Sở TT&TT… và sự quyết
tâm, nỗ lực hết mình của các doanh nghiệp viễn thông và CNTT.
Theo ICTNews